Thứ Sáu, 12 tháng 9, 2014

Quy luật Hấp dẫn (The Law of Attraction)


Bạn như một thỏi nam châm hút vào cuộc sống của mình mọi con người,
mọi hoàn cảnh và mọi tình huống hài hòa với những suy nghĩ chủ đạo của bạn.

Quy luật Hấp dẫn đã xuất hiện từ thời Ai Cập cổ đại cách đây khoảng 3000 năm trước Công Nguyên và là một trong những quy luật nền tảng giải thích sự thành công và thất bại trong cuộc sống cũng như trong kinh doanh. Quy luật này có sức tác động mạnh mẽ đến mọi hành động, mọi lời nói, thậm chí cả những suy nghĩ và cảm nhận của bạn.

Bạn như thỏi nam châm, hút vào cuộc sống của mình mọi con người, mọi hoàn cảnh và mọi tình huống hài hòa với những suy nghĩ chủ đạo trong bạn. Suy nghĩ của bạn như một dạng năng lượng tinh thần chuyển theo tốc độ ánh sáng. Chúng có khả năng xuyên qua bất cứ rào cản nào. Đó là lý do tại sao đôi khi bạn đang nghĩ đến một người ở rất xa và chỉ một lát sau bạn nhận được điện thoại hay thư từ người đó. Trong trường hợp này, suy nghĩ của bạn đã kết nối với người đó vào chính khoảnh khắc mà bạn nghĩ đến họ.

Những điều trong cuộc sống đã thu hút vì chính con người của bạn, và đặc biệt vì suy nghĩ của bạn. Bạn bè, gia đình, các mối qua hệ, những hoàn cảnh, các vấn đề và cơ hội của bạn đều thu hút bạn do cách nghĩ theo thói quen của bạn trong mỗi lĩnh vực.

Có một ví dụ về nguyên tắc này trong âm nhạc, được gọi là nguyên tắc sự cộng hưởng giao cảm. Nếu bạn có hai chiếc đàn piano trong một căn phòng rộng, bạn bấm nốt đô trên một chiếc đàn và sau đó bước đến chiếc đàn kia, bạn sẽ nhận thấy rằng nốt đô trên chiếc đàn kia cũng đang rung lên với cùng độ rung như chiếc đàn đầu tiên. Tương tự như vậy, bạn sẽ có xu hướng gặp và có quan hệ với những người và tình huống hài hòa với suy nghĩ và cảm giác ngự trị của chính bạn.

Khi bạn nhìn xung quanh, nhìn vào mọi mặt của cuộc sống, bạn sẽ thấy rằng toàn bộ thế giới của bạn là do chính bạn tạo ra. Và bạn càng đặt nhiều cảm xúc của mình vào một suy nghĩ, thì “độ rung” càng lớn hơn và bạn càng nhanh chóng thu hút những con người và tình huống hài hòa với suy nghĩ trong cuộc sống của bạn.

Những người thành công thu hút được nhiều người thành công và vui vẻ khác. Những người bán hàng lạc quan, yêu đời hấp dẫn được nhiều khách hàng lớn hơn. Những doanh nhân tích cực thì hấp dẫn được nguồn nhân lực, khách hàng, nhà cung cấp và các chủ ngân hàng mà họ cần để xây dựng công ty thành công.

Quy luật Hấp dẫn đang làm việc, nó là một quá trình liên tục tiếp diễn. Bạn không thể ấn nút tạm dừng, hay ngưng hẳn. Nó là một hành động kéo dài mãi mãi, cũng giống như suy nghĩ của bạn vậy.

Giống như những quy luật khác, Quy luật Hấp dẫn là trung tính. Nó có thể giúp bạn và cũng có thể làm bạn bị tổn thương. Quy luật này có thể được xem như một biến thể của Quy luật Nhân quả, hay Quy luật gieo và gặt. Đây là lý do tại sao các nhà triết học lại nói:

Gieo suy nghĩ, gặt hành động.
Gieo hành động, gặt thói quen.
Gieo thói quen, gặt tính cách.
Gieo tính cách, gặt số phận.


Bạn có thể sở hữu nhiều hơn và làm được nhiều điều hơn, bởi vì bạn có thể thay đổi con người bạn. Bạn có thể thay đổi suy nghĩ ngự trị của bạn bằng cách nghiêm túc luyện tập quy luật này. Bạn có thể rèn luyện bằng cách giữ cho suy nghĩ của bạn hướng về những gì bạn mong muốn và loại bỏ suy nghĩ về những gì bạn không muốn.

Những người chủ động sử dụng Quy luật Hấp dẫn theo hướng tích cực thường được gọi là may mắn. Đây chỉ là một cách giải thích cho lý do tại sao có quá nhiều điều tốt đẹp đến với cuộc sống của những người có mục tiêu rõ ràng và lạc quan tuyệt đối về thành công của họ.

Tổng hợp bài viết từ Brian Tracy


Quy luật chung về sự hấp dẫn, lôi cuốn
-    Mang những người cùng sở thích đến với nhau
-    Mang những người dễ thương đến với nhau
-    Mang những người sợ hãi đến với nhau

và giữ họ lại bên nhau.



Quy luật Hấp dẫn phát biểu rằng chúng ta chỉ có thể hút cùng loại năng lượng mà chúng ta phát ra về chính chúng ta. Nó dựa trên nguyên tắc vật lý lượng tử mà mọi thứ - bao gồm cả con người - phát xạ ra sức mạnh này. Trên thực tế, Vũ trụ được điền đầy bởi những rung động mà các nhà khoa học gọi là “chuỗi” năng lượng. Nó luôn vận động bên trong chúng ta, xuất phát từ chúng ta, và tất cả bao quanh chúng ta theo đúng nghĩa đen. Dù chúng ta có nhận biết được nó hay không thì mỗi chúng ta vẫn là một phần của một quá trình trao đổi và mở rộng cực lớn của lực này xảy ra trong vũ trụ từng ngày, từng giờ, từng phút.

LUẬT HẤP DẪN LÀ GÌ ?





Từ ngàn xưa con người đã khám phá ra “trâu tìm trâu, ngựa tìm ngựa,” “nồi nào vung nấy,” “lòng tin bằng hạt cải dời được núi non,” và những câu “thần chú” ngắn gọn lập đi lập lại với lòng thành sẽ làm cho sự việc xảy ra theo ý mình muốn. Ngày nay cả thể giới phương tây đang nói đến các điều này, nhưng với một từ mới hơn—Luật Hấp Dẫn (law of attraction).

Một cách vắn tắt, luật hấp dẫn nói rằng bất cứ tư tưởng gì ta có cũng đều hấp dẫn các năng lực tương tự trong vũ trụ để tạo nên sự việc theo tư tưởng đó. Ví dụ: “Tôi sẽ có tiền,” nếu cứ nghĩ và tin như thế tự dưng ta sẽ có tiền. “Tôi sẽ đẹp,” cứ nghĩ như thế thì ta sẽ thành đẹp ra.


Dĩ nhiên nói đến “lòng tin” hay “thần chú,” thì vấn đề có một nền tảng rất khoa học. Nếu ta cứ tin là ta có tiền thì ra sẽ rất hăng hái lao vào các việc làm tiền. Càng làm, càng nhiều kinh nghiệm, càng giỏi, càng thành lớn. Đây chỉ là chuyện hiển nhiên. Hoặc, chàng nào tin là mình đẹp trai thì thường hay để ý đến cách ăn mặc hơn và tự tin hơn với các cô. Mà các cô thì thích đàn ông ăn mặc tử tế và tự tin. Rốt cuộc số lượng các cô bạn chàng có là chứng minh hùng hồn nhất là chàng đẹp trai. Lòng tin làm cho mình có tự tin và tập trung tư tưởng, do đó đưa đến thành công. Vấn đề rất giản dị.

Tuy nhiên luật hấp dẫn còn có khía cạnh “siêu nhiên” của nó. Đó là, sức mạnh của tư tưởng hấp dẫn các năng lực trong vũ trụ để thực hiện ý muốn của tư tưởng. Tương tự như nhà Phật nói, một tiếng khẩy móng tay có thể mang âm ba rung động đến vô lượng thế giới. Như vậy nghĩa là sao? Năng lực gì trong vũ trụ lại cộng hưởng với năng lực của tư tưởng của ta đến mức đó?

Chúng ta sẽ không đi vào lãnh vực tâm lý ngoại cảm mà ta không đủ sức chứng minh, tức là “vô lượng thế giới.” Thay vì vậy, ta sẽ chỉ khảo sát luật hấp dẫn trong thế giới cá nhân của mỗi người chúng ta, để thấy được tính cách khoa học của nó, và để sử dụng nó một cách hiệu quả. Thế giới cá nhân của mỗi người chúng ta là chính mình, gia đình, bạn bè, những người làm cùng sở, những người mình giao tiếp hằng ngày, những người mình không giao tiếp nhưng họ có tiếp xúc với tư tưởng của mình—như những người đọc điều gì mình viết trên Internet.

Danh từ đầu tiên ta phải giải thích là “tư tưởng.” Từ “tư tưởng” (idea) trong luật hấp dẫn có thể làm cho rất nhiều người hiểu lầm rằng đó là một hoạt động của ý thức, như “suy nghĩ” hay “suy tư.” Nhưng trong luật hấp dẫn, “tư tưởng” có nghĩa là một hoạt động của tâm thức—gồm ý thức, tiềm thức và cả các cảm giác như vui buồn yêu ghét. Nói chung, tư tưởng là tất cả những gì xảy ra trong tâm ta. Mà nói đến tâm, là chúng ta đều biết tiềm thức lớn lao và mạnh mẽ hơn ý thức ngàn lần, cho nên khi hiểu từ “tư tưởng” trong luật hấp dẫn như là một hành động suy nghĩ của ý thức mà thôi, là ta đã làm mất sức mạnh của luật hấp dẫn đi cả trăm, cả nghìn lần. Ví dụ: Nếu miệng ta lẩm bẩm “tôi sẽ có tiền” (tức là ý thức), nhưng trong thâm tâm ta không tin là điều này sẽ thành sự thực (tức là tiềm thức). Mà tiềm thức thì mạnh hơn ý thức cả nghìn lần, cho nên đương nhiên là ta sẽ sống theo hướng “tôi sẽ không có tiền,” và vì vậy mất tự tin trong việc kiếm tiền. Thế thì luật hấp dẫn vẫn đúng, nhưng “thần chú” của ta thì sai.

Vì tiềm thức rất khó cho ta “thấy,” ta cần phải tìm cách “thấy” tiềm thức qua những cái khác—lòng tin, và cảm giác. Lòng tin điều khiển một phần rất lớn sự “suy nghĩ” của tiềm thức, và cảm giác thường là hậu quả của tiềm thức, cho nên ta quản lý tiềm thức bằng quản lý lòng tin và cảm giác—lòng tin phải thật mạnh mẽ, cho đến nỗi ta luôn luôn cảm thấy rất là hăng hái, chắc ăn. Khi ta nói “tôi sẽ có tiền” với một lòng tin mạnh mẽ và một cảm giác hăng hái, chắc ăn, thì lúc đó “tư tưởng” của ta mới tạm gọi là chân thật và mạnh mẽ. Vì vậy, thay vì nói “ý thức” và “tiềm thức,” rất mơ hồ và khó hiểu, chúng ta chỉ cần quan tâm đến 3 điều: (1) sự suy nghĩ, (2) lòng tin, và (3) cảm giác. Suy nghĩ đến điều gì, như “tôi sẽ xuống cân,” thì suy nghĩ với một lòng tin vững chải và một cảm giác hăng hái. Lúc đó tư tưởng mới thực sự có sức mạnh chuyển hóa đời sống ta và thế giới của ta.

Nói đến đây có lẽ chúng ta đã mường tượng được luật hấp dẫn hoạt động như thế nào: Nếu ta cứ nói “tôi có tiền” với một lòng tin mạnh mẽ và một thái độ hăng hái, thì tiềm thức “tôi sẽ có tiền” sẽ bắt đầy chỉ huy tác phong và cách sống của ta. Tự nhiên là ta sẽ bắt đầu hăng say nghiên cứu việc kiếm tiền, nói chuyện kiếm tiền với bạn bè, siêng năng đi tìm việc làm, hễ việc gì có thể kiếm ra tiền ta đều hăng hái làm. Những người như vậy, đi xin việc ở đâu, các ông chủ đều mê. Người nào muốn làm thương mại gì cũng muốn tìm partner như vậy. Không giàu sao được?

Như vậy ta thấy tư tưởng của ta đã chuyển hóa được đời ta, và ít nhất là đời sống của những người làm việc chung. Và nếu có bạn bè thân nhân nào đó, nghe ta nói và tin vào cách sống của ta, họ làm theo và thành công, đó cũng là do tư tưởng của ta đã phần nào chuyển hóa cuộc đời họ. Và nếu một tờ báo nào đó nhờ ta viết một bài về kinh nghiệm của mình, những độc giả nào nhờ đó mà chuyển hóa đời sống của họ, một phần cũng là do tư tưởng của ta. Đó chính là tư tưởng của ta có năng lực chuyển hóa thế giới của ta. Và nếu uy tín của bạn càng cao trong xã hội, thì thế giới của bạn càng lớn, ảnh hưởng chuyển hóa của bạn trên hành tinh này càng nhiều. Rất thực tiễn và khoa học.

Luật hấp dẫn là luật tự nhiên, như là trọng lực, rất trung tính. Luật hấp dẫn đúng với tất cả mọi người, không cần biết nam nữ, lớn bé, giàu nghèo, và quan trọng nhất là, không cần biết tốt xấu. Người lương thiện tin chắc chắn là mình sẽ giàu, sẽ giàu nhờ làm ăn lương thiện. Người có máu ăn cướp, tin một cách sắt đá là mình sẽ giàu, thì sẽ giàu nhờ ăn cướp. Vì vậy, chúng ta thấy trong xã hội, bất kỳ ai, tốt hay xấu, cũng có thể “thành công.”

Thế thì có gì khác biệt giữa người xấu và người tốt ở đây? Thưa, có luật nhân quả (law of causation). Chữ này nghe như xuất thân từ Phật giáo, nhưng thực ra cả thế giới đã dùng nó cả triệu năm nay, vì đánh người thì sẽ có hậu quả là bị người đánh lại, ai cũng phải thấy. Nếu làm ăn lương thiện thì có nhiều bạn và không có kẻ thù, cho nên có xác suất rất cao là thành công sẽ ở với mình rất lâu. May ra thì có thể hưởng được tuổi già hạnh phúc. Nếu đi ăn cướp, thì có nhiều kẻ thù quá, lại được các bác công an chiếu cố đặc biệt, nên xác suất hưởng được “thành công” lâu ngày chắc là chỉ hơn zero một nấc nhỏ, và xác suất được đứng dựa cột thì suýt soát 100%. Sự khác biệt giữa tốt và xấu là ở chỗ đó—một bên thì nhiều bạn nên sống lâu, một bên thì nhiều thù nên chết yểu.

Luật hấp dẫn là luật của tư tưởng, mà ngôn ngữ là một phần rất lớn của tư tưởng, cho nên ngôn ngữ rất quan trọng trong luật hấp dẫn. Chúng ta đã nói qua điều này trong bài “Sức mạnh của tư tưởng.” Trong ngôn ngữ của con người, thể phủ định có ảnh hưởng rất yếu trong tâm thức. Ví dụ: “Tôi không yêu ai” thì nhạt như nước ốc. Nó chẳng có nghĩa lý gì hết, nó chỉ có nghĩa là tôi không yêu ai, và không chắc là tôi có ghét ai không. Nghe chán phèo. Hay “tôi không chống anh,” chẳng nghĩa lý gì cả, vậy anh có ủng hộ tôi không?

Vì vậy khi ta nói một câu phủ định “tôi không muốn béo,” tiềm thức của ta không “thấm” cái yếu ớt của chữ “không” phủ định, mà lại thấm cái mạnh mẽ của chữ “béo” xác định. Cho nên tiềm thức cứ hướng ta sống theo hướng “béo.” Vì vậy, các chuyên gia về tư duy tích cực (cũng như các luật sư chuyên về tranh tụng trước tòa) luôn luôn dạy người ta nói và viết ở thể xác định: “Tôi muốn gầy” (không phải là “tôi không muốn béo”), hay “tôi muốn giàu” (không phải là “tôi không muốn nghèo”).

Một số các chuyên gia còn có cách trình bày thế này: Luật hấp dẫn không biết văn phạm , chỉ biết các từ mà thôi. Nếu câu bạn nói mà có chữ “yêu,” không cần biết đó là phủ định hay xác định, thì luật hấp dẫn cứ dẫn ta đi theo hướng “yêu.” Các bạn có nghe các phụ nữ lớn tuổi kể chuyện đời của họ không: “Hồi đó tui ghét ổng gần chết, thấy mặt là wẹo đường khác. Nhất định là không thèm thương. Rốt cuộc cũng lấy ổng.” Tóm lại “tôi yêu anh Tín” hay “tôi không yêu anh Tín,” đối với luật hấp dẫn thì như nhau, và cả hai chỉ có nghĩa là “yêu” và “anh Tín.” Tương tự như vậy, “tôi không thích béo” và “tôi thich béo” đều chỉ có nghĩa là “tôi” và “béo.” Vì vậy, ta luôn luôn phải suy nghĩ (và nói chuyện cũng như viết lách) theo thể xác định. Và dĩ nhiên là chỉ nên dùng các từ tích cực. (Từ tích cực là từ nói đến cái ta muốn, ta thích. Nếu bạn thích gầy, thì “gầy” là từ tích cực và “béo” là từ tiêu cực. Ngược lại nếu bạn thích béo, thì “gầy” lại là tử tiêu cực và “béo” là từ tích cực).

Dĩ nhiên là ai trong chúng ta cũng biết ảnh hưởng của luật lập đi lập lại (law of repetition). Các giáo chức đều rất giỏi luật này. Dạy một điều nhưng cứ lập đi lập lại hằng trăm lần, bằng hằng trăm cách khác nhau (biết rồi, khổ lắm, nói mãi!), như vậy thì học trò mới nhập tâm được. Cho nên, theo luật hấp dẫn, nếu bạn muốn điều gì thì soạn một câu thần chú ngắn, như “tôi sẽ có tiền,” rồi cứ thầm lập đi lại câu đó trong đầu, thì luật hấp dẫn sẽ có tác dụng mạnh mẽ. (Nhắc thầm thôi, lảm nhảm ngoài miệng chắc là sẽ bị người nhà cho nhập viện).

Và một quy luật ngôn ngữ khác nữa là hiện tại thì luôn luôn luôn mạnh hơn tương lai. Hãy so sánh “anh yêu em” và “anh sẽ yêu em” xem câu nào mạnh hơn. Nhưng điều ta ước muốn đương nhiên là thuộc về tương lai, ví dụ “tôi muốn có tiền.” Thế thì ta giải quyết cái yếu của tương lai thế nào? Thưa, có 2 phương cách. Thứ nhất, nếu việc gì có thể biến nó thành hiện tại, thì phải suy nghĩ theo cách hiện tại. Ví dụ: Thay vì “tôi sẽ có tự tin” thì ta phải nói “Tôi có tự tin,” vì chẳng lý do gì ta không thể nói “tôi có tự tin ngay bây giờ” mà phải đợi đến sang năm.

Thứ hai, đôi khi ta cảm thấy nhất định không thể nói thì hiện tại một cách đầy tin tưởng được, ví dụ, nếu trong túi không có một đồng xu, thì nói “tôi sẽ có tiền” dễ tin hơn là “tôi có tiền.” Trong trường hợp đó cứ nói “tôi sẽ …” nhưng phải buộc tương lai vào hiện tại, ngay trong lúc này, ngay ở đây. Tức là, hiện thời tôi đang ngồi đây nói chuyện với bạn của tôi, tôi biết là tôi muốn có tiển và “tôi sẽ có tiền,” nhưng cái “sẽ” đó có thật được hay không cũng là do tôi sống trong hiện tại có thật hay không—tương lai chỉ là một chuỗi những ngày của hiện tại. Hiện tại tôi đang nói chuyện với bạn tôi, tôi sẽ nói chuyện rất thực, tôi sẽ lắng nghe rất kỹ, sẽ mở rộng đầu óc và con tim để nghe, tôi sẽ chia sẻ thật tình, tôi sẽ dùng mỗi giây đồng hồ một cách tận tình. Sống ngay phút này, ngay tại đây, một cách tận tình, dù là mình đang làm bất kỳ việc gì, thì đó là cách để nối hiện tại có thật vào một tương lai sẽ đến thật.

Cuối cùng, có bạn hỏi luật hấp dẫn này từ đâu tới? Dĩ nhiên là nghe qua ta cũng thấy luật hấp dẫn là qui luật tâm lý tự nhiên. Con người hấp dẫn nhau vì sức mạnh bên trong của mình. Và các chuyên gia về tâm lý và truyền thông (communication) đã nói đến nhiều thập kỹ (nếu không nói là hàng nghìn năm nay). (Chỉ có phần tâm lý ngoại cảm–năng lượng của tâm thức làm chuyển động năng lượng của vũ trụ–thì mình xin được phép miễn bàn, vì chưa nắm chắc). Gần đây một vài cuốn sách bán chạy đã đẩy danh từ “luật hấp dẫn” thành rất phổ thông. Theo mình nghĩ, luật hấp dẫn được diễn giảng ngày nay chính là “tư duy tích cực” phát xuất từ các giảng sư thiên chúa giáo khi xưa—lòng tin bằng hạt cải dời được núi non–trình bày lại một cách khoa học hơn bằng các khái niệm Phật giáo đang rất thịnh hành trong giới trí thức Âu Mỹ ngày nay.

Diện Chẩn - Chữa u nhọt

CÁC LOẠI U – NHỌT
BƯỚU CÁC LOẠI : Day ấn nhiều lần bộ Tiêu U, tiêu bướu ( 41, 143, 127, 19, 37, 38) Rồi hơ phản chiếu nơi có U bướu

Day ấn gõ : 14, 64, 8, 12, 37, 17, 50, 39, 87, 51, 124, 34 – Rồi hơ và lăn như trên.
KHỐI U MỠ
Day bộ Tiêu U tiêu bướu
Hơ quanh chân khối u rồi lăn tại chỗ bằng cầu gai.
 MỤN NHỌT 
1/ Dán cao : 37, 38, 51, 7 ( Trần thị Minh Tân)
2/ Án, dán cao : 5, 121 (Hình Ích Viễn)
3/ Ấn hay dán cao: 26, 61, 38, (Tạ Minh )

MỤT NHỌT DO NÓNG, GÂY SỐT CAO:
Ấn dán huyệt 26, 240, 61, 3, 41, 39, 38. (Bùi Quốc Châu)




mụn nhọt nóng
MỤN CÓC ( BƯỚU LÀNH TÍNH )
Gõ rồi dán cao; 26 – 3 – 50 – 51 – 0
Chú ý: Nên làm vào buổi chiều tối có hiệu quả hơn (làm khoảng một tuần là có kết quả)   (theo Bùi Quốc Châu)
NHỌT Ở CẰM 
Dùng phác đồ Tiêu viêm tiêu độc : 38, 5, 14, 143, 61, 127
Dán Salonpas mổi ngày 1 lần – 3 ngày liên tiếp.
U NHỌT
Phác đồ tổng quát trị khối u các nơi trên cơ thể ;
103, 26, 3, 7, 17, 38, 50, 37, 156.
Phác đồ 1: Gạch dán cao 179, 143, 188, 196, 74, 64, 38, 17, 156, 14, 275.   ( Bùi Quốc Châu)
Phác đồ 2 : 26, 3, 16, 60, 61, 57, 5, 38, 17, 50, 143, 29, 85.
(Bùi Quốc Châu)
U NHỎ TRÊN CƠ THỂ
Phác đồ: 41, 143, 127, 19, 37, 38. ( Ấn 3 lần – vòng lại 3 lần rồi hơ đối xứng )
Dùng thêm một trong 5 bộ dưới đây:
Bộ Điều hòa : Thường dùng trong bệnh Tim, thần kinh
Bộ Tiêu Viêm : Dùng khi có sưng, mủ
Bộ bổ âm huyết trị mất ngủ
Bộ Thăng
Bộ Giáng
 U NHỌT CHƯA CÓ MỦ 
Phác đồ : 41, 143, 127, 19, 37, 38  ( Lý Phước Lộc)














Trích sách "Thực hành Diện Chẩn" 

Thứ Hai, 8 tháng 9, 2014

Quy luật niềm tin




“Những gì bạn thực sự tin tưởng bằng tất cả cảm xúc sẽ trở thành hiện thực.”

Quy luật Niềm tin phát biểu rằng, bất cứ điều gì bạn tin tưởng chân thành, nó sẽ trở thành hiện thực. Bạn càng có niềm tin mãnh liệt là một điều gì đó sẽ trở thành hiện thực thì điều đó càng dễ trở thành hiện thực. Thật sự tin tưởng vào một điều gì đó nghĩa là bạn không thể tưởng tượng được nó sẽ trở thành một cái gì đó khác.

Niềm tin chính là bộ lọc lựa chọn thông tin và chỉ lối cho mọi hành động. Bạn không nhất thiết phải tin những gì mình thấy, nhưng bạn thường có xu hướng thấy những gì bạn đã tin. Bạn cũng thường loại bỏ những thông tin trái ngược với những gì bạn đã tin tưởng mà không xem xét liệu niềm tin và thành kiến của bạn có dựa trên sự thật khách quan hay chỉ là cảm nhận chủ quan.

Ví dụ, nếu bạn tin tưởng tuyệt đối rằng bạn sẽ đạt được thành công lớn trong cuộc sống, sau đó dù điều gì xảy ra cũng không quan trọng, bạn sẽ tiếp tục tập trung vào mục tiêu của bạn. Không gì có thể ngăn cản bạn được.

Mặt khác, nếu bạn tin tưởng rằng thành công là do may mắn hay tình cờ, thì bạn sẽ dễ dàng trở nên chán nản và thất vọng khi mọi việc không diễn ra như bạn mong muốn. Niềm tin của bạn sẽ quyết định việc bạn thành công hay thất bại.

Nhìn chung, mọi người có một trong hai thế giới quan. Một là thế giới quan tích cực. nếu bạn có quan điểm thế giới nhân đạo thì nói chung, bạn tin tưởng rằng thế giới là một nơi tốt đẹp hiền hòa. Bạn có xu hướng quan sát những điều tốt đẹp trong mỗi con người, mỗi hoàn cảnh và tin tưởng rằng có rất nhiều cơ hội xung quanh bạn. Bạn tin tưởng vào tương lai, vào bản thân và người khác. Về cơ bản, bạn có thái độ lạc quan.

Hai là thế giới quan tiêu cực. Một người có thế giới quan tiêu cực về cơ bản là bị động và có thái độ bi quan đối với chính bản thân họ và cuộc sống. Người đó tin rằng: “Những người giàu sẽ ngày càng giàu hơn, những người nghèo sẽ ngày càng nghèo đi” và, cho dù bạn có làm việc chăm chỉ như thế nào thì bạn cũng vẫn không thể phát triển.

Kiểu người này chỉ nhìn thấy sự bất công, áp bức và bất hạnh ở khắp nơi. Khi những điều không hay xảy ra với họ, như vẫn thường thế, họ đổ lỗi cho sự kém may mắn và cho người khác. Họ nghĩ mình là nạn nhân. Vì thái độ này mà họ không thật sự yêu quý hay tôn trọng bản thân họ.

Những người có thái độ lạc quan thường hoạt bát, vui vẻ. Với họ, thế giới là một vùng đất tốt đẹp, tươi sáng.

Tuy nhiên, chướng ngại tinh thần lớn nhất mà bạn phải vượt qua là những thứ còn chứa trong niềm tin của bạn. Chúng hạn chế bạn trên một số mặt. Chúng kéo bạn trở lại bằng cách ngăn chặn sự cố gắng của bạn. Chúng thường xuyên làm bạn chứng kiến những điều không có thật.

Thành kiến nghĩa là vội vàng đánh giá, đi đến kết luận trái ngược với bất kỳ thông tin nào, hoặc thậm chí bất chấp thông tin. Để thành công, bạn cần thiết biết kiềm chế việc đánh giá con người hay hoàn cảnh cho đến khi có đầy đủ thông tin. Quan trọng hơn hết, bạn phải kiềm chế vội vàng xét đoán bản thân cũng như những suy nghĩ có tính chất “thu hẹp”. Điều này thường xảy ra khi bạn nghĩ rằng mình kém cỏi, không có năng lực, không giỏi giang như những người khác cũng chính là lúc bạn đang để bản thân rơi vào cái bẫy thông thường là tự chấp nhận những mục tiêu thấp hơn rất nhiều so với khả năng thực tế của mình.

Bạn có thể cảm nhận rằng mình không thông minh lắm bởi lực học ở trường của bạn chỉ đạt mức trung bình. Bạn tin rằng bạn thiếu khả năng sáng tạo, hoặc trong khả năng học và ghi nhớ. Bạn cảm thấy mình chưa thật sự thân thiện, luôn lo lắng về tiền bạc. Một số người cảm thấy không thể giảm cân, bỏ thuốc hay thích người khác giới.

Việc “thu hẹp bản thân” này cũng giống như những chiếc phanh kìm hãm tiềm năng và tạo ra hai kẻ thù lớn nhất cho sự thành công: sự hoài nghi và sợ hãi. Chúng làm bạn ngại đón nhận sự mạo hiểm có tính thử thách, vốn rất cần thiết để bạn thể hiện đúng năng lực của mình. Vì vậy, bạn cần phải kiên quyết loại bỏ bất kỳ suy nghĩ hay ý kiến “thu hẹp” nào và trong mọi trường hợp, hãy tin rằng những gì người khác làm được thì bạn cũng làm được.

Sự thật là không ai tài giỏi hơn hay thông minh hơn bạn. Nếu có, phần lớn đó là những người biết cách phát triển khả năng và tài năng thiên bẩm của mình nhiều hơn bạn mà thôi. Họ đã tìm hiểu Quy luật Nhân quả và sớm áp dụng vào cuộc sống cũng như công việc. Trong phạm vi nhất định, bạn cũng có thể làm được bất kỳ điều gì mà những người đó đã làm, chỉ cần bạn có lòng nhiệt thành và sự ham học hỏi.

Nhưng dù bạn tin vào điều gì, nếu niềm tin đó mãnh liệt, nó sẽ trở thành hiện thực. Thậm chí, nếu niềm tin của bạn là sai, nhưng nếu bạn tin tưởng vào những điều đó thì chúng cũng có thể trở thành hiện thực.

Đa số niềm tin tự giới hạn của bạn hoàn toàn không đúng. Chúng dựa trên cơ sở thông tin bị động mà bạn đã tin và chấp nhận như là sự thật. Và khi bạn chấp nhận, niềm tin của bạn sẽ biến nó trở thành hiện thực. Giống như Henry Ford đã nói: “Dù bạn tin rằng bạn có thể, hoặc bạn tin bằng bạn không thể, thì bạn vẫn luôn đúng”.

Niềm tin - nguồn năng lượng vô biên



“Bạn luôn đúng cho dù bạn nghĩ mình có thể làm được hay không làm được một việc gì đó”-Henry Ford.
Trong cuộc sống ai cũng có những mơ ước thực hiện những việc quan trọng của đời mình nhưng chỉ số ít thực hiện được điều đó còn phần lớn thì chỉ là mơ ước. Có rất nhiều lý do khiến chúng ta không thể thực hiện được ước mơ của mình đó chính là niềm tin chưa đủ lớn để  quyết liệt hành động vì mơ ước đó. Nếu chúng ta có niềm tin đủ lớn đủ mảnh liệt cho mơ ước của mình thì tất cả mọi việc trên đời đều là chuyện nhỏ.  Vì thế hãy luôn có những tư duy tích cực để xây dựng niềm tin vững chắc cho bản thân.



Niềm tin là nguồn động lực duy nhất có thể làm cho sức mạnh trí tuệ tìm năng của ta được phát huy và biến thành hành động. Đó là nguồn sức mạnh vô biên để thay đổi cuộc đời giúp chúng ta vượt qua mọi khó khăn mà tiến về phía trước.
Anh em nhà Wright là thợ sửa xe đạp nhưng mơ ước và có niềm tin rằng có thể tạo ra cổ máy biết bay. Trong khi đó, cha của họ, một cố đạo lại tuyên bố là chỉ có thiên thần mới biết bay. Chính niềm tin đã giúp anh em nhà Wright chế tạo thành công chiếc máy bay đầu tiên. Niềm tin cũng đã giúp Thomas Edison phát minh thành công bóng đèn điện cho dù có 999 lần thất bại.

Chân lý đơn giản của cuộc sống là: Nếu chúng ta muốn thành công thì hãy tin tưởng mình sẽ thành công nếu chúng ta không tin mình thì sẽ không còn ai tin tưởng chúng ta.
Nếu chúng ta nghĩ mình sẽ thất bại, thì chắc chắn chúng ta sẽ thất bại. Vì thế hãy xây dựng giá trị niềm tin cho bản thân mình, hãy đặt ra những mục tiêu rỏ ràng từng bước thực hiện mục tiêu đó từ những việc đơn giản dần nâng độ khó của mục tiêu cho đến khi bạn thực hiện tốt tất cả các mục tiêu. Khi ấy sẽ giúp chúng ta tạo lập được niềm tin.
Khi đã có được niềm tin thì tất cả mọi việc thực hiện cho dù có khó khăn cách mấy cũng có thể giúp chúng ta dễ dàng vượt qua, có thể nói niềm tin là sức mạnh phi thường giúp chúng ta thực hiện những điều tưởng chừng như không thể.