Hiển thị các bài đăng có nhãn Dien Chan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dien Chan. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

Tự chữa bệnh hen phế quản

  Hen phế quản là một bệnh mạn tính thường mắc ở cả trẻ em và người lớn. Mặc dù y học đã có nhiều tiến bộ trong điều trị nhưng số người mắc bệnh ngày càng tăng. Hiện nay khoảng 6% dân số nước ta bị hen phế quản tương đương 5 triệu người và cứ 10 năm tần suất lại tăng thêm 20 đến 25%. Mỗi khi lên cơn, người mệt mỏi, khó thở, chán ăn, cơ thể dễ suy nhược nên người bệnh cứ phải chung sống suốt đời với các loại thuốc có nhiều độc tố bằng đường uống, đường tiêm tĩnh mạch hay phun khí dung. Vậy diện chẩn chữa hen phế quản thế nào mà có kết quả nhanh chóng lại không phải dùng thuốc?  
Phác đồ chữa Hen phế quản: 14, 275, 61, 19, 8, 12, 61, 491, 467, 565, 432, 103, 106, 107, 108, 138.
Bệnh nhân Nguyễn Thị Hoa (240/11K Cách Mạng Tháng 8, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh) tâm sự:
 “Tôi mang trong người bệnh hen phế quản đã trên 40 năm. Bốn mươi năm tìm kiếm từ những miền đất khắp cả nước một phép lạ nào đó mong chữa lành căn bệnh mạn tính. Biết bao nhiêu thuốc men, cả Đông y lẫn Tây y thế mà căn bệnh đã không vơi bớt phần nào lại càng trầm trọng theo tuổi đời. Thế mà hôm nay, như tỉnh dậy từ một giấc mơ, bệnh nay đã dứt hẳn. Những cơn ho đã từng hành hạ thân xác bao năm tháng nay chẳng còn nữa. Thật là một phép lạ khó mà tin nổi. May mắn có được khi người quen giới thiệu tôi đến với lương y Trần Dũng Thắng” (cộng tác viên của Tạp chí Thế giới Mới).
Thế giới Mới đã mời lương y Trần Dũng Thắng giới thiệu phác đồ điều trị chứng hen phế quản này.
Phác đồ sau: 14, 275, 61, 19, 8, 12, 61, 491, 467, 565, 432, 103, 106, 107, 108, 138. Nhớ bấm các huyệt theo thứ tự trên, mỗi huyệt bấm 10-15 lần. Sau cùng hơn huyệt trên bằng ngải cứu. Hơ từ giữa trán xuống giáp hai đầu lông mày. Hơ mũi và hai bên sườn mũi, hai bên mang tai, cổ tay trong (của bàn tay trái nắm lại), hơ vùng cổ hạng thẳng xuống hết xương ức. Tất cả mất độ 5-6 phút. Ngày bấm và hơ nhiều lần bệnh khỏi rất nhanh.
Phân tích phác đồ trên ta thấy 14, 275, 61, 19 có tác dụng làm thông những chỗ bế tắc; 8, 12 trấn thống vùng cổ họng; 61, 491, 467, 565, 432 kích thích hai lá phổi làm cho long đờm, thông khí, dễ thở; 103, 106, 107, 108, 138 làm cho tim thêm khỏe, mũi càng thông, phổi nhanh ráo nước, họng chóng sạch đờm là những triệu chứng lâm sàng của hen phế quản bị triệt tiêu. Nhân đây cũng xin nói thêm, phác đồ này còn chữa được cả bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) gây tử vong đứng hàng thứ tư trên thế giới. Phép lạ chữa hen phế quảng của Diện Chẩn đậm đà bản sắc dân tộc Việt Nam, là niềm tự hào chính đáng của y học dân tộc.
Lương y Trần Dũng Thắng

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2015

CÁC LOẠI U – NHỌT

Sách “Thực hành Diện Chẩn”


CÁC LOẠI U – NHỌT
BƯỚU CÁC LOẠI : Day ấn nhiều lần bộ Tiêu U, tiêu bướu ( 41, 143, 127, 19, 37, 38) Rồi hơ phản chiếu nơi có U bướu
image001134

Day ấn gõ : 14, 64, 8, 12, 37, 17, 50, 39, 87, 51, 124, 34 – Rồi hơ và lăn như trên.
KHỐI U MỠ
Day bộ Tiêu U tiêu bướu
Hơ quanh chân khối u rồi lăn tại chỗ bằng cầu gai.
 MỤN NHỌT 
1/ Dán cao : 37, 38, 51, 7 ( Trần thị Minh Tân)
2/ Án, dán cao : 5, 121 (Hình Ích Viễn)
3/ Ấn hay dán cao: 26, 61, 38, (Tạ Minh )

MỤT NHỌT DO NÓNG, GÂY SỐT CAO:
Ấn dán huyệt 26, 240, 61, 3, 41, 39, 38. (Bùi Quốc Châu

image002384

MỤN CÓC ( BƯỚU LÀNH TÍNH )
Gõ rồi dán cao; 26 – 3 – 50 – 51 – 0
Chú ý: Nên làm vào buổi chiều tối có hiệu quả hơn (làm khoảng một tuần là có kết quả)   (theo Bùi Quốc Châu)
NHỌT Ở CẰM 
Dùng phác đồ Tiêu viêm tiêu độc : 38, 5, 14, 143, 61, 127
Dán Salonpas mổi ngày 1 lần – 3 ngày liên tiếp.
U NHỌT
Phác đồ tổng quát trị khối u các nơi trên cơ thể ;
103, 26, 3, 7, 17, 38, 50, 37, 156.
Phác đồ 1: Gạch dán cao 179, 143, 188, 196, 74, 64, 38, 17, 156, 14, 275.   ( Bùi Quốc Châu)
Phác đồ 2 : 26, 3, 16, 60, 61, 57, 5, 38, 17, 50, 143, 29, 85.
(Bùi Quốc Châu)
U NHỎ TRÊN CƠ THỂ
Phác đồ: 41, 143, 127, 19, 37, 38. ( Ấn 3 lần – vòng lại 3 lần rồi hơ đối xứng )
Dùng thêm một trong 5 bộ dưới đây:
Bộ Điều hòa : Thường dùng trong bệnh Tim, thần kinh
Bộ Tiêu Viêm : Dùng khi có sưng, mủ
Bộ bổ âm huyết trị mất ngủ
Bộ Thăng
Bộ Giáng
U NHỌT CHƯA CÓ MỦ
Phác đồ : 41, 143, 127, 19, 37, 38  ( Lý Phước Lộc)

Bộ Tiêu Viêm


 I/-        PHÁC ĐỒ
106, 26, 37, 50, 61, 38, 156, phản chiếu nơi bị viêm.
Phác đồ Diện Chẩn Tạ Minh - Bộ tiêu viêm
II/-       KỸ THUẬT
            Mỗi ngày điều trị một lần. Tùy hàn chứng hay nhiệt chứng nặng hay nhẹ mà chọn kỹ thuật thích hợp:
1)         Hàn chứng
-                    Dán cao salonpas, lưu khoảng 2 tới 3 giờ.
-                    Day dầu 30 lượt mỗi huyệt. Giữ khô vùng huyệt tác động trong 2 giờ.
-                    Hơ: xức dầu và hơ nóng 1 đến 3 lần mỗi huyệt.
2)         Nhiệt chứng
-                    Châm: lưu kim 20 phút.
-                    Day vaseline, mỗi huyệt chừng 30 cái.
-                    Xung điện: tùy tần số nhanh chậm mà quyết định thời gian.
-                    Ấn: 30 giây mỗi huyệt. Phải đếm theo đồng hồ mới chính xác.
-                    Gõ: 20-30 cái mỗi huyệt.
-                    Rung huyệt: mỗi huyệt chừng 10 giây đồng hồ.
III/-     PHẠM VI SỬ DỤNG
            Bộ huyệt này có tác dụng kháng viêm rất tốt. Đặc biệt những trường hợp viêm do chức năng. Những trường hợp này không cần phối hợp với thuốc vẫn đạt hiệu quả cao.
            Kém tác dụng trong những trường hợp viêm do vi trùng, nên phối hợp với thuốc tây.
            Vì vậy cần chẩn đoán đúng trước khi điều trị. Hoặc đơn giản hơn khi trị thấy không có hiệu quả rõ ràng thì ngưng trị ngay để chuyển hẳn cho Tây y hoặc phối hợp nếu thuận tiện.
IV/-     KINH NGHIỆM
-                    Hiệu quả rất cao cho những u nhọt, mụn bọc, mụt lẹo (chắp mắt) khi dán cao salonpas. Nếu u nhọt chưa có mủ thì mụt tự tiêu, nếu mụt đã có mủ trắng thì có thể vỡ mủ trước rồi mới xẹp sau, cứ yên tâm điều trị tiếp cho đến khi khỏi hẳn.
-                    Khi kết hợp với kháng sinh hiệu quả nhanh hơn hẳn so với chỉ dùng thuần kháng sinh. Khi viêm cấp có sốt cao nên dùng nước đá phối hợp với bộ GIÁNG để tấn công bệnh càng nhanh càng tốt (khi hết sốt thì ngưng dùng nước đá).
-                    Cũng có thể dùng trong các trường hợp viêm nội tạng, áp-xe nội tạng.
-                    Đặc biệt hiệu quả cao trong viêm phế quản đối với trẻ em, dĩ nhiên cần phối hợp với phản chiếu phế quản. Ngoài ra còn được dùng trong điều trị viêm xoang rất tốt (cần thêm huyệt 300). Các vấn đề này sẽ được trình bày chi tiết ở các bài khác.
-                    Bộ huyệt này cũng giúp nhuận tràng khi thêm 365. 

Thứ Ba, 7 tháng 7, 2015

PHÁC ĐỒ TỔNG HỢP
ĐIỀU TRỊ SỐT VIRUS
1- Cào chân tóc trán (vị trí số 4 trong Phác đồ của LY Tạ Minh): Hạ sốt và điều chỉnh hệ Thần Kinh Thực Vật (TKTV).
BÀN TAY
2- Vạch khe liên ngón 2-3: Hạ sốt
3- Cào mu ngón tay cái PC cột sống: Điều chỉnh hệ TKTV
4- Cào điểm ở nếp cổ tay phần mu bàn tay, phía ngón út: PC hệ bạch huyết nửa thân trên.
5- Cào điểm ở nếp cổ tay phần mu bàn tay, phía ngón cái: PC hệ bạch huyết nửa thân dưới.
6- Cào điểm ở khe liên ngón 1-2 gần khớp bàn-ngón cái: PC hệ bạch huyết vùng ngực.



BÀN CHÂN
7- Cào vùng trước trên mắt cá ngoài: PC hệ bạch huyết nửa thân trên.
8- Cào vùng trước trên mắt cá trong: PC hệ bạch huyết nửa thân dưới.
9- Cào khe liên ngón 1-2: PC hệ bạch huyết vùng ngực.
Cào theo tứ tự; cào bên phải trước bên trái sau. Mỗi vị trí cào hoặc vạch 40 lần. Cào hết 9 vùng là 1 lượt điều trị. Cào 4-5 lượt, cách nhau 1 tiếng.
Số vùng tác động có thể thay đổi tùy tình trạng cụ thể của người bệnh. Bệnh nhân được điều trị muộn (từ ngày thứ 2 của bệnh trở đi) hoặc sốt cao thì cần tác động đủ 9 vùng. Nếu điều trị sớm, hoặc người bệnh không sốt thì có thể bỏ bớt các vùng 1, 2, 3.
Nguồn Điện Chẩn HN

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2015

Đường hướng Việt Y Đạo

Bài viếc này của GSTS Bùi Quốc Châu. Mong các môn sinh Diên Chẩn trên nước VN và thế giới hiểu rõ hơn về VIỆT Y ĐẠO.

Việt Y Đạo vừa làm công việc của thầy thuốc, vừa làm công việc của tu sĩ nhưng lại khác với hai giới trên. Việt Y đạo là gì? – Là một đạo sống, một nghệ thuật sống, chứ không chỉ là một trường phái hay một biện pháp về y học ( hiểu theo nghĩa thông thường) hoặc tôn giáo.
Tại sao có chủ trương Việt Y Đạo?
Việt Y Đạo khác với Y học thông thường thế nào ? So sánh với Việt y, Tây y, Đông y thế nào? với Tôn giáo?
Việt y đạo khác với Việt y ở chữ Đạo, bởi Việt y chỉ thuần là y thuật, tức là những phương pháp y thuật của người Việt, cũng như Trung y là y thuật của người Trung Quốc. Y thuật chỉ nhằm bảo vệ sức khỏe cho con người, còn Việt y đạo ngoài chức năng như trên còn nhắm đến việc giúp con người giảm bớt những “bệnh tật của tinh thần” làm lành mạnh hóa tư tưởng, tình cảm của con người, giúp con người tìm đến và tiếp cận Chân, Thiện, Mỹ, chiến thắng bản thân và làm chủ chính mình.
Nó cũng khác với Trung y, Tây y về phương cách chữa bệnh, khác về quan điểm bảo vệ sức khỏe con người. Nó cũng khác với tôn giáo ở chỗ không bắt buộc hay kêu gọi phải tuân phục một đấng tối cao nào cả, và cũng không hứa hẹn một thiên đàng hay kiếp sau tốt đẹp hơn. Vì một lẽ đơn giản, Việt y đạo không phải là một tôn giáo, cho nên Việt y đạo chỉ giúp con người Bình yên về thể xác lẫn tâm hồn ( tức Tâm thân thường an lạc) thông qua những phương pháp khoa học cụ thể vừa tầm hiểu biết và áp dụng của mọi người.

MỤC ĐÍCH
Việt y đạo nhằm mục đích gì? Nó nhằm mục đích xây dựng, hoàn thiện con người về mặt thể xác lẫn tinh thần. Phục vụ tổ quốc, xây dựng đất nước giàu mạnh,ấm no và tăng uy tín Việt Nam trên trường quốc tế.
Con người bị thất tình – lục dục và những vấn nạn như Danh, lợi, tình khiến cho Khổ. Con người còn bị chi phối bởi nhữnng quy luật của sự sống: Sinh – Lảo – Bệnh – Tử cho nên Đau.
Tìm sâu hơn về nguyên nhân Đau – Khổ, ta thầy có sự yếu đuối về tinh thần và thể xác, sự ngu dốt của trí tuệ và sự si mê của tình cảm. Ngoài ra, sự đau khổ của con người còn do Tham – Sân – Si mà ra, cũng như do Nghiệp báo.
Vì hiểu được phần lớn nguyên nhân gây ra đau khổ cho con người, cho nên khi tìm ra được một số phương pháp y học có tính năng giải quyết được những đau khổ kể trên, tôi mạnh dạn đề xướng Việt y đạo là con đường giúp cho loài người nói chung, trong đó có dân tộc Việt Nam những yếu tố sau đây:
- Mạnh về thể xác và tinh thần
- Sáng suốt, tăng tiến về trí tuệ
- Hướng đến Chân – Thiện – Mỹ.
- Làm chủ  bản thân
- Gần gũi với thiên nhiên, liên thông với trời đất, hiểu được Thiên lý.
- Khai thác và vận dụng được tiềm năng của bản thân mình.
- Bớt ỷ lại và phụ thuộc vào thầy thuốc cùng các loại thuốc.
Tóm lại, Việt Y Đạo giúp con người biết cách chiến đấu chống lại sự Đau và Khổ (tổn thương về thể xác và tâm hồn) giúp con người biết cách làm chủ chính mình về mặt thể xác và tinh thần. Việt Y Đạo mở rộng kiến thức, nâng cao tinh thần, phát triển trí tuệ để đạt đến sự tự do về mặt thể xác lẫn tinh thần, đạt đến những giá trị tốt nhất về sức khỏe và hạnh phúc, đồng thời góp phần với y học thể giới để phục vụ sức khỏe cho nhân loại và làm sáng danh nên Y học Việt Nam.
Việt Y Đạo còn là gạch nối để người học tiếp cận với các lĩnh vực khác như triết học, tôn giáo, văn hóa, mỹ thuật, âm nhạc, xã hội, văn học, vật lý, hóa học…
BIỆN PHÁP:
Để đạt được những mục đích nêu trên, Việt y Đạo đưa ra các biện pháp thực tiễn như sau:



- Ẩm thực dưỡng sinh: Giúp cho con người biết cách ăn uống phù hợp để tránh bệnh tật và tăng cường sức khỏe.
- Sinh hoạt Dưỡng sinh: Giúp con người học biết cách sinh hoạt như ngủ nghỉ, tắm rửa, vận động đúng cách để tránh bệnh tật và có sức khỏe.
- Thể dục tự ý: Giúp con người biết cách tự vận động sao cho bớt hay hết bệnh, tăng tiến và cải thiện về sức khỏe mà không cần theo một bài bản cố định nào như Thái Cực Quyền, Dịch Cân kinh, Bát đoạn cẩm…
- Âm Dương khí công: Giúp con người biết cách tự làm chủ và quân bình khí âm dương trong cơ thể mình, phát triển về mặt trí tuệ, tiến đến làm chủ cơ thể, tăng cường sức khỏe thể xác và sức mạnh tinh thần, từ đó sẽ bớt đi được sự đau khổ (sở dĩ con người đau khổ là do sự yếu đuối về thể xác và tinh thần, ngoài ra còn mắc các tật tham sân si cho nên dê phạm những sai lầm, đưa đến sự đau khổ triền miên vì không được đáp ứng, thỏa mãn). Âm Dương khí công cũng giúp cho người tập được sáng suốt, mở mang được trí tuệ cho nên sẽ nhận thức được dễ dàng sự hay – dở , đúng – sai , xấu – tốt, để từ đó giúp họ đi vào con đường đúng (Chánh đạo) dẫn đến hạnh phúc và sự giải thoát ( Độc lập – tự do về tinh thần) .
- Thai Giáo: Giúp cho các bà mẹ tương lai sinh ra được những đứa con khỏe mạnh về thể xác, thông minh và nhiều năng lực hơn.
- Diện Chẩn điều khiến liệu pháp và phương pháp Xoa bóp Việt Nam (Vinamasage) giúp con người biết cách khai thác, vận dụng những năng lực trong cơ thể của mình để phòng chống bệnh tật, có sức khỏe thông qua các huyệt và các vùng liên quan các bộ phận trong cơ thể. Qua đó người học cũng sẽ ý thức được rõ ràng và sâu sắc lẽ biến dịch của tạo hóa, lý sắc không của Phật giáo, tư tưởng phác chấp của Thiền tông, thuật tự nhiên của Lão – Trang.
Tóm lại, qua sự thực hành Diện Chẩn lâu ngày, người học sẽ ngộ ra được chân lý của vũ trụ, của cuộc sống và tự nhiên sẽ thấy yêu đời, yêu người, yêu thiên nhiên, tạo vật và thích giúp đỡ người khác. Tức sẽ đưa con người tiến dần đến chỗ Chân (sự Thật), Thiện (điều Tốt) Mỹ (cái Đẹp). Điều này cũng có nghĩa là sẽ giúp người thực hành Diện Chẩn tiến hóa về thể xác lẫn tinh thần, kể cả về mặt tâm linh.
Việt Y Đạo: dùng Y để tải Đạo
Tôn chỉ của Diện Chẩn / Việt Y Đạo là giúp hoàn thiện con người về mặt thể chất lẫn tinh thần để trở thành người có ích cho xã hội và hưởng được hạnh phúc ngay trong cõi trần gian này.
 (GS TSKH Bùi Quốc Châu)
Chữ ĐẠO ở đây không phải là tôn giáo như đạo Phật, đạo Thiên Chúa... nhằm đưa con người đến chỗ giải thoát khỏi luân hồi, sinh tử hay về với Chúa ở cõi thiên đàng, mà Đạo ở đây có nghĩa là ĐẠO LÀM NGƯỜI hay một nghệ thuật sống giúp cho con người tiếp cận Chân Thiện Mỹ, sống tốt đẹp hơn, khỏe mạnh hơn, hạnh phúc hơn, tự tin hơn, độc lập hơn, tự do hơn, bình an hơn và minh triết hơn, đồng thời bớt tham lam, kiêu ngạo, thành kiến, đua đòi, nịnh hót, ích kỹ, a dua..., ngõ hầu góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn ở cõi đời này.
Ngay từ ban đầu, có người cho việc làm này là quá cao vọng và khó đạt thành. Thế mà đã hơn 30 năm qua, cứ sau khi kết thúc một khóa học ngắn ngày hay một năm học và thực hành Diện Chẩn /Việt Y Đạo, nhiều học viên – trong cũng như ngoài nước – đã phải thốt lên “Tôi đã đổi đời”, “Thầy đã làm thay đổi cuộc đời, tư tưởng chúng tôi ( change our life, change our mind)”, có nghĩa là đã làm cho họ từ bi quan, chán đời trở nên vui vẻ, yêu đời, từ bệnh hoạn trở nên mạnh khỏe, từ ích kỹ trở nên vị tha...
Tại sao, nhờ đâu tôi có thể làm được điều này chỉ trong một thời gian ngắn (chỉ 1 tháng hay quá lắm là 1 năm), trong khi các bạn đó đã không đạt được những điều vừa kể dù đã cố gắng rất nhiều với nhiều cách khác nhau ngoài Việt Y Đạo.
Đó không phải là phép mầu gì cả, chẳng qua là do chúng tôi đã DÙNG Y ĐỂ TẢI ĐẠO chứ không dùng VĂN (viết) hay THUYẾT (nói) ĐỂ TẢI ĐẠO (TẢI: Chuyên chở. ĐẠO ở đây được hiểu là con đường đi đến Chân Thiện Mỹ). Để cho dễ hiểu, tôi đã chỉ ra con đường cho các học viên đi nhưng tôi cũng cung cấp cho họ phương tiện ( như chiếc xe hơi, chiếc xe gắn máy chẳng hạn) để họ có thể đi trên con đường (Đạo) được nhanh hơn, và đích đến là Chân Thiện Mỹ chứ không phải là Niết bàn hay Thiên đàng – xin các bạn nhớ cho dùm. Đây là điều rất quan trọng mà nhiều học viên chưa hiểu vì các bạn đó không quan tâm đến ĐẠO mà chỉ quan tâm đến THUẬT mà thôi. (Ở phần dưới đây tôi sẽ đề cập đến vấn đề cực kỳ quan trọng này để các bạn khỏi lạc lối khi học những pháp do tôi đề xướng).
Thật ra, các bạn nên yên tâm vì ĐẠO ở đây không phải là cái gì trừu tượng, mơ hồ, xa xôi hay quá khó đạt đến như tu để thành A la hán, thành Phật hay được lên Thiên đàng, khỏi sa địa ngục, hay thoát khỏi sinh tử luân hồi.. ĐẠO ở đây không xa lắm mà ở ngay trong tầm tay các bạn. Chính vì thế mà khi kết thúc khóa học, đã có nhiều học viên kiểm tra bản thân mình và thấy mình có gần đủ 20 Điều lợi ích mà tôi đã nêu trong giáo trình, như: sức khỏe tốt hơn (bớt hay hết bệnh); an tâm trong cuộc sống so với trước đây; vui vẻ, lạc quan, yêu đời hơn; bớt thành kiến với người khác; biết chia sẻ kinh nghiệm chữa bệnh và giúp người xung quanh được khỏe mạnh.v.v... Tóm lại là họ trở thành con người mới, cải thiện về Thân lẫn Tâm trong một thời gian rất ngắn ( từ 1 tháng đến 1 tháng rưỡi).
Cho nên Việt Y Đạo – trong đó có môn Diện Chẩn và Âm dương khí công – mà các bạn đã nghe nói hoặc theo học không phải là một môn y học thuần túy mà đúng ra nó là một kỹ năng sống hay cao hơn – một nghệ thuật sống giúp các bạn trở thành người tốt đẹp hơn về cả Thân lẫn Tâm, để các bạn có thể hưởng một cuộc sống hạnh phúc, sung sướng trên cõi đời này, chứ không phải là một môn y học, như Đông y hay Tây y, càng không phải là một tôn giáo hay một giáo phái nào cả.
Sở dĩ Diện Chẩn ĐKLP , Âm dương khi công và nhiều phát minh khác của tôi, như Thể dục tự ý, Thai giáo VN, Ẩm thực dưỡng sinh, Thực đạo VN..., cùng được biết đến dưới tên “Việt Y Đạo”, đã được các bạn say mê đến quên ăn bỏ ngủ ( có nhiều người bỏ ra hơn 10 tiếng đồng hồ mỗi ngày để nghiên cứu và thực hành Diện Chẩn) là do tôi dạy cho các bạn Y ĐẠO song song với Y THUẬT Diện Chẩn, từ các phác đồ, các con số huyệt, các dụng cụ xinh xắn, dễ thương..., cũng như qua các Tâm ngôn Diện Chẩn và Triết lý chữ TÙY, còn đươc nhiều học viên gọi là “đạo” Tùy.
Đó là giáo trình và cách dạy hiện nay ở Trung tâm Việt Y Đạo ( hiện ở số 16 Ký Con, P7 Quận Phú Nhuận, trước kia ở số 19 B Phạm Ngọc Thạch ,Q3 TP HCM). Qua cách giảng dạy mới này, tôi đã gặt hái được những kết quả ngoài mong đợi, mà học viên cũng hết sức thoải mái khi học. Lớp học lúc nào cũng vang lên tiếng cười của thầy, trò. Tuy vậy, chỉ sau 1 – 2 tuần học DC, hầu hết các bạn đều đã chữa bệnh được cho chính mình và người khác với kết quả rất khả quan. Và sau 4- 5 tuần học DC và Âm dương khí công, hầu hết ai cũng biết chữa bệnh cho chính mình và người khác, cả cho con vật nuôi, cây cối, bông hoa... trong nhà. Tóm lại cả trò lẫn thầy đều đạt được niềm vui khó tả vì có niềm vui nào lớn bằng khi họ cùng đạt được 3 điều vô cùng quí báu của con người, đó là SỨC KHỎE – HẠNH PHÚC – TRÍ TUỆ (chưa kể nhiều điều khác nữa mà ai học trực tiếp với tôi cũng biết. Muốn biết rõ hơn, mới các bạn vào trang web www.dienchan.com, xem mục “Bài thu hoạch” của học viên các khóa).
Sở dĩ Diện Chẩn có sức thu hút lớn lao như một niềm đam mê đối với các học viên vì nó kết hợp ĐẠO với THUẬT, có nghĩa là trong Diện Chẩn thì các phác đồ, đồ hình, dụng cụ..., chỉ là THUẬT, còn phần ĐẠO chính là những Tâm ngôn Diện Chẩn, Triết lý chữ TÙY... Căn cứ vào tư tưởng Tam Giáo cộng với sự chiêm nghiệm qua thực tế cuộc sống và kinh nghiệm điều trị, tôi mới viết ra cho học viên đọc, học và vận dụng vào lãnh vực trị bệnh cũng như trong một số lãnh vực ngoài y học, như nhạc, họa, khiêu vũ, thể thao, võ thuật.v.v... Tam Giáo gồm Phật, Lão, Khổng – trong đó có Kinh Dịch, các thuyết Âm dương Ngũ hành, Tam tài, Vạn vật đồng nhất thể.v.v... – từ lâu đã gắn liền với văn hóa Việt và con người Việt chúng ta, nhưng phải nói lả Tam Giáo chưa được vận dụng một cách sâu sắc và sáng tạo như trong môn Diện Chẩn, cho nên nó không gây được sức hút mãnh liệt như tầm cỡ mà tôi đã phân tích ở phần trên.
Nhiều người đã lãng quên việc khai thác, vận dụng kho tàng của cổ nhân (qua tục ngữ, ca dao cũng như sách vở, chuyện kể trong dân gian) để lại cho chúng ta để áp dụng cho nhiều lãnh vực mà chỉ lo tiếp thu cái văn minh vật chất từ phương Tây đem lại. Vẫn biết văn minh Tây phương có cái hay của nó ( vì nó có tính Dương, mạnh mẽ và có sức hút lớn hơn nhưng văn hóa Á Đông cũng có sức hút đặc biệt của tính Âm, vậy tại sao ta lãng quên nó hoặc chỉ nói mà không khai thác sức mạnh của nó? Nữ chẳng lẽ lại kém hấp dẫn hơn Nam ư?). Tôi chẳng qua nhờ thấy cái hay , cái thâm thúy của cổ nhân mà nghiên cứu , học hỏi và ứng dụng vào lãnh vực trị bệnh cứu người, rồi qua đó dần dà đạt đến chỗ cao sâu hơn. Đó là ĐẠO tức là chỗ MINH TRIẾT, tự làm chủ bản thân mà hài hòa với tự nhiên, khai thác được những mầu nhiệm của Thân và Tâm con người cùng sức mạnh vô cùng to lớn của vũ trụ, của thiên nhiên mà góp phần xây dựng đất nước và con người Việt Nam ngày càng có hạnh phúc, sức khỏe, trí tuệ hơn để thoát khỏi những đau khổ tự thân như là qui luật tự nhiên của Trời Đất.
Hy vọng rằng những điều tôi vừa trình bày sẽ được các bạn thấu hiểu và thực hành nghiêm túc để đừng đi sai đường mà uổng phí cuộc đời và làm hoen ố uy tín cùng danh dự của Việt Y Đạo mà tôi và các môn sinh tốt đã bỏ công xây dựng trong thời gian qua.
GSTSKH BÙI QUỐC CHÂU
(19/2/2012)
----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
PHỤ LỤC
1/. Trích bài giảng DIỆN CHẨN – ĐIỀU KHIỂN LIỆU PHÁP
(trang 13 – Tác giả: GSTS KH BÙI QUỐC CHÂU):
“Tóm lại, Diện Chẩn (FACY) không phải là một sản phẩn đơn thuần y học mà là kết quả tổng hợp của nhiều ngành khác nhau, trong đó chủ yếu là văn hóa và triết học Đông phương ( như Phật, Khổng , Lão, Thiền, Dịch học...), có thể nói nó là đứa con tinh thần của VĂN HÓA VIỆT NAM với tính TỔNG HƠP, CHIẾT TRUNG VÀ SÁNG TẠO NHUẦN NHUYỄN. Chúng tôi gọi nó là Y ĐẠO (I’TAO) hay Y HỌC- VĂN HOA TRIẾT HỌC vì nó không dừng ở chỗ Y THUẬT hay Y ĐỨC mà cái nó nhắm tới là không chỉ đem lại SỨC KHỎE CHO THÂN THỂ VÀ TINH THẦN CỦA CON NGƯỜI MÀ CÒN GIÚP MỞ MANG TÂM TRÍ (MINH TRIẾT HƠN) RỒI THÔNG QUA VIỆC CHỮA BỆNH CHO MÌNH VÀ CHO NGƯỜI MÀ DẦN DẦN ĐẠT LÝ CỦA TRỜI ĐẤT VÌ CON NGƯỜI VÀ VŨ TRỤ LÀ MỘT (THIÊN NHÂN HỢP NHẤT), CHO NÊN THẤU HIỂU MÌNH TẤT SẼ HIỂU CÁI LÝ CỦA TRỜI ĐẤT. Ngoài ra nó còn mở rộng sự giao lưu văn hóa giữa các dân tộc với nhau (vì theo NHẤT NGUYÊN LUẬN thì TẤT CẢ LÀ MỘT), đóng góp vào việc hình thành một nền văn hóa thế giới”.
2/. 20 ĐIỀU LỢI ÍCH CỦA DIỆN CHẨN-ĐKLP
1. SỨC KHỎE: Tự phòng và chữa được bệnh cho mình, tự bảo vệ được sức khoẻ cho mình mỗi khi ốm đau. 
2. HẠNH PHÚC: Khi có sức khoẻ và có điều kiện giúp đỡ người khác bằng phương pháp Diện chẩn. Niềm vui đạt được thành công trong khi thực hành phương pháp Diện Chẩn – Điều Khiển Liệu Pháp (trị bệnh cho người khác có kết quả tốt – giúp cho người khác khỏi bệnh). Sức khoẻ của người là hạnh phúc của ta.
3. TRÍ TUỆ:Khi thông qua LÝ và SỰ của môn học này sẽ mở rộng trí tuệ nó giúp ích cho người học trên nhiều lãnh vực của cuộc sống. 
4. TỰ TIN: Thấy mình là người có tài, hữu ích cho gia đình, cộng đồng và xã hội, nên tự tin hơn trước, bớt nhút nhát và suy nghĩ tiêu cực.
5. TÔN TRỌNG: Được người khác quý mến, kính nể, tin cậy. 
6. TƯƠNG GIAO: Mở rộng mối quan hệ trong xã hội. Có nhiều bạn bè hơn trước. Được nhiều người tốt giúp đỡ nhờ trị được bệnh cho họ. 
7. TÀI LỘC: Tài lộc gia tăng hơn trước. Nhờ chữa cho nhiều người khỏi bệnh
8. PHÚC ĐỨC: Tạo được nhiều phước nhờ chữa bệnh cứu người. 
9. TỰ DO: Có thể làm chủ được sức khoẻ của mình.Bớt sự lệ thuộc vào thầy thuốc và thuốc men như trước kia.
10. TƯƠI ĐẸP: Cơ thể trở nên tươi đẹp và trẻ lâu hơn trước. 
11. SỐNG LÂU: Nhiều khả năng kéo dài tuổi thọ hơn trước. 
12. BÌNH AN: Ổn định vui vẻ trong tâm hồn. 
13. PHÁ CHẤP: Ít thành kiến với người khác nhờ học được chữ Tùy trong Diện Chẩn. 
14. XÃ HỘI TỐT ĐẸP: Góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn vì mỗi cá nhân tốt sẽ ảnh hưởng tích cực với người xung quanh và nhiều cá nhân khoẻ mạnh tốt đẹp trong xã hội.
15. GIẢM LO ÂU: Thoát khỏi sự lo sợ, ám ảnh, hoang mang khi mình bị bệnh.
16. TIẾT KIỆM: Giảm được chi phí điều trị bệnh tật cho bản thân và gia đình.
17. VUI VẺ: Sống vui vẻ lạc quan yêu đời và thoải mái hơn trước. 
18. CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG: Chất lượng cuộc sống được nâng cao hơn trước
19. BÌNH ĐẲNG: Giàu nghèo, sang hèn đều được chữa như nhau
20. THAY ĐỔI NHÂN SINH QUAN & THẾ GIỚI QUAN: Giúp cho con người thay đổi cái nhìn về con người, về cuộc sống và về thế giới chung quanh, biến ta thành con người mới.
3/. 20 ĐẶC ĐIỂM CỦA DIỆN CHẨN - ĐIỀU KHIỂN LIỆU PHÁP1. Everyone: Diện Chẩn (DC) dành cho mọi người, ai cũng học được.
2. Everytime: DC có thể áp dụng bất cứ lúc nào.
3. Everywhere: DC có thể áp dụng bất cứ chỗ nào.
4. Everything: với DC vật gì cũng có thể dùng chữa bệnh được.
5. Easy: DC dễ học, dễ áp dụng.
6. Effective: DC rất hiệu quả.
7. Excellent: DC đạt những kết quả tuyệt hảo.
8. Economic: DC giúp tiết kiệm được thời gian và tiền bạc cho người tin dùng.
9. Elastic: DC mang tính mềm dẻo, linh hoạt 
10. Equal: DC đem đến sự bình đẳng, ai cũng như ai.
11. Evolution: DC luôn tiến bộ.
12. Everlasting: DC tồn tại mãi, vĩnh cửu.
13. Energy: DC tạo nguồn sinh lực cho người học
14. Entertainment: DC như một sự giải trí, trò tiêu khiển.
15. Exciting: DC đem đến sự phấn khởi, hào hứng. 
16. Exotic method: DC là một phương pháp kỳ lạ, hấp dẫn.
17. Exploration: DC như một cuộc thám hiểm mới lạ, kỳ thú.
18. Eureka: DC luôn khám phá điều mới lạ ( Nghĩa đen: Khám phá ra rồi)
19. Eagerly: DC đem đến sự hăng hái cho người học
20. Earth: DC sẽ phổ biến khắp địa cầu.


P/S: Bạn có thể tải bản "tổng hợp thu hoạch Diện Chẩn và nhiều tài liệu khác tại
https://www.facebook.com/groups/clbdienchanquangninh/files/

Chúc bạn mỗi ngày một tinh tấn!

Chữa viêm xoang bằng Diện Chẩn




Ly. Tạ Minh 
Xoang là những mảnh xương vùng mặt được cấu tạo không đăc mà đầy lổ hang,có các dây thần kinh và đặc biệt là máu ra vào rất nhiều. Xoang bị viêm khi nhiễm trùng hoặc máu ứ lại và hoại tử  trong nó. Diện chẩn Điều khiển liệu pháp (DC-ĐKLP) điều trị bệnh này rất tốt vì ngoài tính kháng viêm còn tính khai thông tuần hoàn huyết ở  đây.
 Có hai loại xoang: xoang cạn (xoang hàm trên, xoang trán, xoang sàn trước) và xoang sâu (xoang sàn sau, xoang bướm), tổng cộng có 5 xoang. Ngoài ra trên thực tế ta thấy thỉnh thoảng có bệnh nhân bị viêm cả xương sóng mũi, tuy nhiên đây không được coi là xoang. Trên thực tế người ta hay dùng từ VIÊM XOANG MŨI. Khi viêm hai xoang trở lên thì gọi là viêm đa xoang. Đa số bệnh nhân bị viêm đa xoang.
Điều trị viêm xoang mãn: Hàn chứng thì day có dầu bộ Tiêu Viêm Khử Ứ, 300, bộ vị phóng chiếu các vùng xoang.
Nhiệt chứng: day bộ huyệt nêu trên không có dầu, lăn đinh hay lăn gai các vùng xoang.
Điều trị viêm xoang cấp: Khi viêm xoang mãn thỉnh thoảng xoang bị viêm cấp thì bệnh nhân có sốt. Cần chẩn đoán hàn nhiệt để  dùng kỹ thuật thích hợp. 
Nếu hàn chứng thì cần hơ nóng và xoa dầu theo phác đồ nêu trên 3 lần mỗi huyệt và vị trí các xoang; khi hết sốt thì ngưng hơ và điều trị tiếp theo viêm mãn do hàn.
 Nếu nhiệt chứng thì đây là có nhiễm trùng, dùng nước đá áp lạnh hoặc lăn đinh và kết hợp với kháng sinh hoặc vạch theo 6 vùng phản chiếu bạch huyết cho nhanh. Sau khi bệnh nhân hết sốt thì ta lại điều trị theo cách trị viêm xoang mãn. Không nên hơ hay áp lạnh thêm, có thể gây hậu quả không tốt cho bệnh nhân sau này.
Kiêng cữ: kiêng tuyệt đối các thức ăn uống sau: các thức từ tủ lạnh,các thức chua, gà, mắm, nếp.
Trung bình  từ 3 đến 7 lần điều trị là bệnh nhân hết nhức đầu. Nhưng các xoang chưa khỏi viêm hẵn, cần điều trị tiếp cho đến hết sinh huyệt các vùng xoang. Được như vậy, bệnh nhân mới khó tái phát bệnh. Tuy nhiên cần kiêng cử thức lạnh lâu dài vài tháng sau đó.
Khi điều trị xong, bênh nhân có thể ăn uống bình thường nhưng không nên lạm dụng các thức lạnh và các thức gây viêm như đã nêu trên. Vì cơ thể bệnh nhân kém chịu đựng các loại thức ăn uống này.
  Tác giả: Lương y Tạ Minh
 www.dienchanviet.com  

BA YẾU TỐ CƠ BẢN BẢO ĐẢM CHO SỨC KHỎE CỦA CON NGƯỜI - Thầy GS.TSKH BÙI QUỐC CHÂU



1. ÂM DƯƠNG KHÍ CÔNG
            Hơi thở gắn liền với cuộc sống của mỗi con người kể từ lúc mới chào đời. Nói nôm na người còn sống là người chưa tắt thở. Hơi thở có tầm quan trọng đặc biệt trong việc nuôi sống con người. Chính vì thế từ rất sớm trong lịch sử nhân loại nhiều người đã luyện thở và truyền bá nhiều cách thở nhằm củng cố và bảo vệ sức khỏe, chống chọi với bệnh tật như phương pháp Yoga, Thiền trước kia và các phương pháp thở hiện nay. Tuy nhiên nhìn chung con người chỉ biết hít thở một cách tự nhiên ít chú ý đến việc luyện thở và có cách thở đúng để nâng cao trí lực và thể lực…
Nói đến hơi thở ở đây là nói đến sự luyện thở. Một cách thở mới mà chúng tôi đã tìm tòi, sáng tạo và luyện thành công trong nhiều năm qua đó là Âm dương khí công. Gọi đơn giản là thở Âm dương. Kinh nghiệm cho thấy thực hiện tốt phương  pháp thở âm dương khí công thì hệ thống thần kinh của con người được điều chỉnh ổn định, vững vàng, tăng trí, tăng lực, sáng suốt, minh mẫn.
Nếu Yoga và Dưỡng sinh có phương pháp thở động và thở sâu kết hợp với nhiều động tác luyện tập phức tạp thì âm dương khí công là một phương pháp tĩnh và không thở sâu, đưa khí theo ý mình bằng những đường thở Âm và Dương chạy theo hai  mạch Nhâm  Đốc có tỷ lệ nhiều hay ít tùy thuộc vào thể trạng của mỗi người.
Điều đáng chú ý ở đây là việc luyện thở theo phương pháp Âm Dương khí công chỉ thực hiện trong thời gian rất ngắn (từ 2 đến 3 phút tối đa là 5 phút) trong ngày và thở được ở mọi nơi, mọi lúc ở bất kỳ tư thế nào. Một phương pháp thích hợp với thời đại  và cho mọi người. Thở đúng là nguyên nhân đầu tiên dẫn con người đi đến  làm chủ trí tuệ (tinh thần) và thể lực (thể xác) là cái rất cần cho thời đại  mới, với cuộc sống nhiều biến động, đầy phức tạp, lo âu và căng thẳng (stress).

2. ẨM THỰC LIỆU PHÁP
Tất nhiên chỉ có thế không thôi thì chưa đủ điều kiện  bảo đảm cho sự sống của con người. Yếu tố quan trọng thứ 2  sau sự luyện thở là cách ăn uống. Thế giới đề cập đến nhiều cách ăn uống và cơ cấu bữa ăn. Nhưng điều quan trọng là hình thành phương pháp ăn uống có nguyên tắc hẳn hoi của từng dân tộc. Nếu hơi thở giúp khí huyết vận hành thông suốt trong cơ thể và làm tăng trí lực, thì thức ăn thức uống tạo ra chất bổ dưỡng làm tăng sức lực nuôi sống cơ thể. Giải quyết tốt hai yếu tố về cơ bản con người sẽ làm chủ được bản thân mình và chống được nhiều bệnh tật. Vì thế mà cần chủ trương ăn ngon, bổ và có cơ cấu bữa ăn hàng ngày thích hợp cho từng đối tượng. Ví như người bệnh suyễn thì không được ăn mắm sống, người bị viêm xoang thì không được ăn cam…Nếu áp dụng một cách nghiêm túc và triệt để và cơ cấu bữa ăn hàng ngày cho từng đối tượng cụ thể thì con người có thể tự phòng và trị được nhiều chứng bệnh do ăn uống sai lầm mà ra.   

 3. DIỆN CHẨN - ĐIỀU KHIỂN LIỆU PHÁP
Ngoài việc thở và biết cách ăn uống, một yếu tố nữa không kém phần quan trọng nhằm bảo vệ con người phòng và trị bệnh, đó là vận động và vật lý trị liệu, mà ở đây cần nhấn mạnh đến phương pháp  Diện chẩn và một số thủ thuật khác như: xoa bóp. Thể dục tự ý. ở phương Tây người ta áp dụng một số phương pháp trị bệnh bằng ánh sáng, tắm nước nóng, nước lạnh, tắm bùn, tắm biển, tắm hơi. Còn ở phương Đông dùng cách châm cứu , bấm huyệt, xông….Tất cả đều có ý nghĩa thực tế của nó và đã giúp nhiều người khỏi bệnh.
Tuy nhiên đó chưa phải là những phương án tối ưu. Với Diện chẩn, một phương pháp chẩn bệnh và điều trị vùng mặt và toàn thân dưới nhiều hình thức: Lăn,  cào, gõ, ấn, day huyệt, dán cao, hơ ngải cứu…được thể nghiệm thành công trong nhiều năm qua, thật sự  là một phương pháp mang tính tổng hợp cao của 4 phương pháp: Xoa bóp, chích lể, phản xạ học và châm cứu. Phương pháp này cho phép mọi người tìm và trị bệnh cho mình và cho người khác một cách dễ dàng, nhanh chóng, chủ động tập trung vào việc tìm tòi, nghiên cứu một diện hẹp (trên vùng đầu, mặt) nhưng chữa trị rất hữu hiệu  trên diện rộng (toàn thân) vì đầu mặt phản ảnh toàn bộ các cơ quan, bộ phận trong cơ thể con người, phù hợp với xu thế mới của thời  đại (trị bệnh nhanh gọn, ít tốn kém và không dùng thuốc.

Như vậy trên cơ sở tổng hợp của 3 yếu tố: Khí công, ẩm thực, Diện chẩn mà hình thành một mô hình trị liệu, có thể gọi là tam giác y học mà đỉnh là khí công. Ba yếu tố ấy quyện chặt vào nhau và tác động lẫn nhau để tạo thành một chỉnh thể thống nhất vận hành trong mỗi con người, điều chỉnh và nâng cao sức khỏe cho con người.

Nếu ở Thế kỷ XX còn nặng nề về y học hóa học thì Thề kỷ XXI sẽ nghiêng về y học vật lý. Hiểu biết ý nghĩa của  3 yếu tố trên cũng đồng thời là 3 phương pháp tổng hợp phòng và trị bệnh cho mỗi con người, thì con người sẽ vươn lên làm chủ bản thân, tiến tới làm chủ Thiên nhiên và làm chủ xã hội. Đó là mục tiêu mă loài người cần đạt được ở Thế kỷ sắp tới.
Ngoài ra chúng tôi còn nghĩ được một bộ máy khám và trị bệnh trong gia đình, để giúp cho con người mỗi ngày tái lập cân bằng trong cơ thể của mình, hoặc phát hiện kịp thời và điều trị bệnh ngay lúc chớm phát. Đối với tình độ khoa học kỹ thuật hiện nay của Thế giới, việc thiết kế chế tạo ra một bộ máy như vậy có lẽ không phải là điều viễn tưởng. Ở Thụy Điển người ta đã làm được chiếc mũ khám bệnh. Ở đây ta có thể hình dung máy khám và chữa bệnh gồm một máy tương tự như Tivi hay Computer. Người bệnh ngồi đối diện với màn hình rồi bấm nút dò bệnh thì tức khắc vùng đầu mặt của người đó được chiếu lên màn hình qua những thông số báo bệnh trong cơ thể thì qua các huyệt vùng đầu, mặt, cổ máy khám sẽ thông báo các hình ảnh và thông số các cơ quan bị bệnh lên màn hình.
Khám bệnh xong máy chuyển sang hệ chữa trị bằng cách phóng tia Laser vào các huyệt báo bệnh chẳng hạn. Việc chữa trị tiến hành có kết quả thì màn ảnh báo hiệu cho biết bật đèn xanh và những thông số chỉ sự bình thường, ngược lại chữa trị chưa dứt được bệnh thì báo hiệu bằng đèn đỏ, xem như là ngoài khả năng của máy và lúc bấy giò máy  sẽ cho lời hướng dẫn đến các bác sỹ chuyên khoa về bệnh của mình.
Trên đây là định hướng về mô hình y học của Thế kỷ XXI. Đó là một mô hình mà theo tôi thể hiện  một nền y học, triết học, văn hóa mang tính xã hội (phổ cập và đại chúng) . Tiến hành phòng và trị bệnh không dùng thuốc bằng nhiều phương pháp kết hợp luyện thở, ẩm thực và vật lý trị liệu… Trước kia và hiện nay, xã hội loài người luôn cần có thầy thuốc cũng như thuốc để chữa bệnh, hay nói cách khác con người  hầu như luôn luôn phải nhờ cậy vào các tác nhân bên ngoài để trị bệnh. Sắp tới, với cách chữa trị theo mô hình y học mới này hay nói nôm na là cách sống theo mô hình sức khỏe Thế kỷ XXI, thì bệnh nhân cũng đồng thời là thầy thuốc. Hay nói cách khác mỗi người là thầy thuốc của  chính mình, dĩ nhiên là trong phạm vi các bệnh chứng thông thường , chủ yếu giải quyết các rối loạn chức năng, không phải là đối với các bệnh có tổn thương hoặc do tổn thương thực thể gây nên. Tất nhiên thực hiện được điều chúng tôi phác họa, hoàn toàn không đơn giản. Cần làm thế nào để Thế kỷ XXI, chúng ta xây dựng cho được mạng lưới y tế gia đình, tự bản thân tiến hành các biện pháp phòng và trị bệnh một cách hết sức nhanh nhạy, ít tốn kém, chủ động. Đi vào diện nhỏ nhưng kinh tế và hiện đại đồng thời đạt hiệu quả cao ở diện rộng.
KẾT LUẬN
1.Y học không phải chỉ để nghiên cứu các phương pháp chữa bệnh, phòng bệnh, tăng cường sức khỏe kéo dài tuổi thọ mà còn phải làm  cho con người biết làm chủ lấy mình, hài hòa với những người xung quanh, với xã hội, còn làm thăng hoa con người ngày càng cao đẹp hơn, gần với chân- Thiện- mỹ hơn, hạnh phúc hơn, tự do hơn.
 1.Y học phải giúp con người trở lại với chính mình, hiểu mình làm chủ lấy mình mà lại gần gũi với Thiên nhiên, với tự nhiên hơn. Xa lìa bản thể chạy theo cái mình tạo ra và nô lệ chúng, đó là nền y học trái tự nhiên và sẽ khiến mình đi vào vòng luẩn quẩn không lối thoát do chính mình tạo ra. Hơn nữa,  còn di hại tới nhiều thế hệ sau.
 2.Y học phải giúp con người cao đẹp hơn về thể chất lẫn tinh thần, trí tuệ và tâm hồn phát triển. Ngoài ra nó còn phải làm được nhiệm vụ hoàn thiện con người từ trong trứng nước (bào thai) và những thế  hệ kế tiếp về sau, để cho nhân loại ngày càng khỏe mạnh, văn minh hơn, biết thương nhau hơn.
 3.Sau nữa y học phải  góp phần vào sự hiểu biết, giao lưu, văn hóa, văn minh giữa các dân tộc với nhau. Với những chủ trương và biện pháp nêu trên về một nền y học mới, thiết nghĩ nếu tổ chức Y tế Thế giới sử dụng nó  vào việc thực hiện mục tiêu “SỨC KHỎE CHO MỌI NGƯỜI NĂM 2000” thì rất hay vì hạn chế được việc dùng thuốc rất nhiều và rất chủ động, sẽ nhanh chóng trong việc thực hiện một cách ít tốn kém nhất. Ngoài ra nếu HỘI CHỮ THẬP ĐỎ QUỐC TẾ áp dụng những biện pháp y học vừa nêu trên vào chương trình  hoạt động của mình  thì rất tốt vì nó giúp cho các hội viên Hội chữ Thập đỏ  một cách đắc lực để thực hiện công tác nhân đạo của họ trên toàn Thế giới. Tuy nhiên chúng tôi cần lưu ý độc giả là chủ trương một nền văn hóa  Triết học đồng thời cũng mang ý nghĩa xã hội là để nâng cao, bổ sung vào điều chỉnh những khiếm khuyết của nền y học hiện đại chứ không phải là thay thế nó (vì thế nó nằm trong phạm vi của y học bổ sung hoặc y học song song). Vì mỗi nền y học có những mặt tích cực của nó. Cũng như mỗi người đều có quyền có những ý kiến riêng của mình. Phần đánh giá thuộc về quần chúng và thời gian.
                            Nguồn dienchan

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2015

Diện Chẩn Ca



ca do nhạc sĩ Võ Hơn sáng tác tặng GSTSKH. Bùi Quốc Châu

Xem video:





Lời bài hát:

Lời 1: 

Điều khiển liệu pháp thầy Châu đã cho ra đời 


Khắp nước Việt Nam nơi nơi cũng đều biết. 


Điều khiển liệu pháp thích ứng với muôn người 


Biến ta nên người chữa trị chính bản thân ta. 


Hãy reo vui mừng đón chào Diện Chẩn người ơi. 


Điều kiện liệu pháp "Vi Na The Ra Py" 


Diều khiển liệu pháp đơn sơ người ơi. 

Điều khiển liệu pháp Tân Y ngày nay


Điều khiển liệu pháp an vui đời ta.

Lời 2: 


Điều khiển liệu pháp từ nơi nước Nam ra đời

Lan khắp đại dương năm Châu vui mừng đón. 


Điều khiển liệu pháp đuốc sáng hôm nay 


Chính đây là niềm tự hào nước Việt Nam ta. 


Hãy reo vui mừng đón chào Diện Chẩn người ơi. 


Điều kiện liệu pháp "Vi Na The Ra Py" 


Điều khiển liệu pháp đơn sơ người ơi. 


Điều khiển liệu pháp Tân Y ngày nay 


Điều khiển liệu pháp an vui đời ta.


Nhạc:





Thứ Năm, 7 tháng 5, 2015

PHÁC ĐỒ HỖ TRỢ CHỮA RUNG NHĨ

Tg: Kì Nam

Theo GS.TS. Phạm Gia KhảiChủ tịch Hội Tim Mạch Việt Nam: Rung nhĩ là một trong những rối loạn nhịp tim thường gặp nhất trong cộng đồng và thường gây ra những biến chứng nặng nề làm bệnh nhân có thể tử vong hoặc tàn phế suốt đời. Rung nhĩ có thể là nguyên nhân gây ra khoảng 5% các trường hợp đột quỵ mỗi năm. Bệnh nhân suy tim có kèm theo rung nhĩ tỷ lệ tử vong tăng hơn đến 34%. Tỷ lệ rung nhĩ tăng dần theo tuổi, trung bình tỷ lệ mới mắc rung nhĩ khoảng 0,1% mỗi năm ở người dưới 40 tuổi nhưng tăng lên tới 1,5 - 2% ở người trên 80 tuổi.
Ở Việt Nam, tỷ lệ bệnh nhân mắc các bệnh lý tim mạch đang ngày càng gia tăng rõ rệt, nhiều trường hợp bệnh nhân có kèm theo rung nhĩ đã gây những khó khăn trong chẩn đoán và điều trị. Việc chẩn đoán và chiến lược điều trị rung nhĩ cần phải được thống nhất để giảm thiểu tối đa biến chứng của rung nhĩ, đem lại cuộc sống với chất lượng tốt hơn cho bệnh nhân.

Bài này không thay thế phác đồ điều trị bệnh rung nhĩ của y học chính thống. Nó chỉ có tác dụng hỗ trợ, nhằm giảm mức sử dụng thuốc và hạn chế cấy máy móc vào cơ thể với nhiều tác dụng phụ khó lường. Kì Nam mới chỉ áp dụng trên 1 người bệnh, thấy có hiệu quả. Nay xin chia sẻ với cộng đồng. Ai có cùng loại bệnh, nếu tình nguyện, xin cùng nhau làm thử để hoàn chỉnh phác đồ điều trị.

Trái tim rời khỏi cơ thể, để trên khay, vẫn còn đập. Thần kinh trung ương không điều khiển nhịp đập của trái tim. Tim co bóp được là do sự điều khiển của một hệ thống điện sinh học phúc tạpTrong đó Nút xoang đóng vai trò quan trọng nhất. Nút xoang tự động tạo nên một xung điện phóng vào tâm nhĩ rồi truyền tiếp trong hệ thống điện sinh học, giữ nhịp cho tim co bóp bình thường.

- Nút xoang, nơi phát xung điện điều khiển hệ thống: vùng huyệt 477+, 34+, 97+. 
- Nút nhĩ thất: vùng 73+.
- Bó His: vùng 21+.
- Nhánh phải, nhánh trái: qua huyệt 101.
- Mạng Purkinje: vùng cằm và 2 má.

         Điện chạy đúng đường thì tốt, trật đường thì “mát”. Luồng điện trong tim cũng vậy. Cứ chạy đúng một đường từ nút xoang đến tâm nhĩ xuống tâm thất thì tim đập đều. Song nếu xẹt tán loạn, lung tung trong tâm nhĩ, sẽ khiến tâm nhĩ rung nhanh và lộn xộn, vạ lây đến tâm thất.

PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BẰNG DIỆN CHẨN – ĐKLP có các bước như sau:     

1-    Đánh 8 vùng phản chiếu hệ bạch huyết (của LY Tạ Minh).
2-    Dùng cầu gai (hoặc lăn đinh, tùy người bệnh) lăn khắp mặt, chú trọng 6 đường phản chiếu mạch vành (của Taminh DC). Tắc nghẽn mạch vành là một trong những nguyên nhân gây rung nhĩ.
3-    Day bộ Bổ Âm Huyết vào Tim.
4-    Tiêu viêm khử ứ (của TaMinh DC) vào Não, Tim (chú ý vùng nhĩ trái – thường xuất hiện tụ huyết ở đấy khi có cơn  rung nhĩ). Thêm 85, 87 – thải độc ra bàng quang.
5-    Thực hiện phác đồ ĐIỀU HÒA NHỊP TIM cho bệnh rung nhĩ.

Nhằm giúp cho Não đở rối khi phải xử lý nhiều huyệt cùng lúc, ta chia nhỏ các bước trên. Ví dụ:
-       Sáng, làm bước: 1, 2, 3.
-       Chiều, làm bước: 2, 4.
-       Tối, trước khi đi ngủ, làm bước: 2, 5. (nếu các cơn rung nhĩ thường xuất hiện về đêm)
                                                                              

PHÁC ĐỒ ĐIỀU HÒA NHỊP TIM (cho bệnh rung nhĩ):          
I-     Tác động vào NÚT XOANG (nơi phát xung điện điều khiển nhịp tim): Vùng 477+, 34+, 97+ (theo Đồ Hình Phản chiếu lên Mặt hệ thống Điện sinh học Tim – Kì Nam lập 26/03/2015)
II-    Tác động vào CÁC HUYỆT ĐIỀU HÒA NHỊP TIM (và ĐIỀU HÒA TIM MẠCH) và phản chiếu mạng Purkinje:
106, 34, 26, 12, 73, 59, (432), 21+, 1, 61, 23, (19), (156), 101, 62, 57, 191.
III-   Tác động vào các huyệt phản chiếu tạng phủ liên quan:
-       Tạng Tâm, Tâm bào, các van tim: 106, 8, 189, 60, 59, 73, 269, 88, 129.
-       Chú ý tạng Phế (Tâm hỏa khắc Phế kim): 61, 467, 491, 269, 13, 28, 132, 310, 360.
Thêm: 312 (liên kết 3 tiêu), 113 (liên hệ thần kinh số X - thần kinh lang thang, Phế vị)
IV-  Tùy biến gia giảm theo tình trạng người bệnh (Kì Nam thường dùng phương pháp đo nhiệt độ đầu các đường kinh của cụ LY Lê Văn Sửu)
Ví dụ: nếu người bệnh có Can nhiệt thì tác động vào các huyệt phản chiếu Can bên trái (âm);
Nếu Đởm hàn thì tác động các huyệt phản chiếu Đởm bên phải (dương)

GHI CHÚ: Nếu các huyệt nào trùng thì không lặp lại.
                                                                                                                                                                                          
THỦ PHÁP:
-       Nếu người bệnh thuộc hàn thì: Gãi huyệt bằng tăm tre rồi dán salonpas qua đêm có lẽ là thủ pháp thích hợp khi các cơn rung nhĩ thường xuất hiện về đêm. Cũng có thể chấm các huyệt bằng cao Bạch Hổ hoặc tương tự.
Ban ngày, khi đi làm chỗ đông người, chỉ dán vùng Nút xoang và vài huyệt điều hòa nhịp tim, thích hợp nhất là H 57, nằm khuất trong tai.
-       Nếu người bệnh thuộc nhiệt thì: dùng cây giọt mưa day vào huyệt, mỗi huyệt 9 cái, làm 2 vòng. Vòng thứ ba chấm va-zơ-lin.   
                                                                   

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ:
-       Các cơn ngạt thở giảm dần đến hết hẵn.
-       Oxy máu (đo bằng máy Oximeter ở đầu ngón tay cái - đánh giá tổng trạng sự hoạt động của Phổi) không bé hơn 95% là đạt yêu cầu.
-       Nhịp tim (cũng đo bằng máy Oximeter) ít dao động hơn và giảm dần đến giới hạn bình thường cho mỗi lứa tuổi (theo Khí Công Y Đạo của LY Đỗ Đức Ngọc)
                                                                  
Khi thấy ổn định rồi, vào chuyên khoa tim kiểm tra lại.

                                                             
CHỐNG CHỈ ĐỊNH:
-       Người có huyết áp thấp tránh dùng: 3, 8, 26, 51
-       Người có huyết áp cao tránh dùng: 1, 19, 50, 63, 6+.
-       Người có thai, tránh dùng: 19, 63, 235.
-       Loét bao tử, tránh dùng: 17-.
-       Ấn sâu  và mạnh 61- sẽ làm mệt tim !

CHÚ Ý:
Theo BS. Nguyễn Văn ĐứcBất cứ tình trạng nào khiến các tâm nhĩ to lên, hoặc làm gián đoạn việc dẫn truyền điện bình thường trong các tâm nhĩ, đều có thể khiến điện chạy bậy, đưa đến rung tâm nhĩ. Như vậy, rất nhiều nguyên nhân có thể khiến tâm nhĩ bị rung. Chỉ xin kể ra ở đây vài nguyên nhân dễ hiểu hay gây rung tâm nhĩ:
- Bệnh cao áp huyết.
- Các bệnh van tim.
- Chết cơ tim cấp tính (myocardial infarction, “heart attack”).
- Suy tim.
- Bệnh nội tiết: các bệnh suy giáp trạng (hypothyroidism), cường giáp trạng (hyperthyroidism), pheochromocytoma.            
- Độc tính của thuốc: như thuốc chữa suyễn theophylline.
- Uống rượu nhiều quá (acute alcohol ingestion).      
- v.v.
   
Khi chữa bệnh rung nhĩ, cần phải chú ý đến điều vừa nêu.